Năm Đức Tin

11
Tháng 12
2012

Năm Đức Tin theo Thánh Tôma - Bài 5 MẦU NHIỆM NHẬP THỂ

Tiếp tục giải thích Kinh Tin Kính, Thánh Tôma bước sang đoạn thứ ba, bàn về Mầu nhiệm Nhập thể. Chúng ta có thể chia thành 3 mục: ý nghĩa của mầu nhiệm; những lạc thuyết; những hệ luận cho đời sống đạo.

Categories: Năm Đức Tin

07
Tháng 12
2012

Năm Đức Tin theo Thánh Tôma - Bài 4 TÔI TIN KÍNH ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CON THIÊN CHÚA

Như đã nói trong bài trước, Thánh Tôma chia Kinh Tin Kính làm 12 đoạn. Đoạn 1 bàn về Thiên Chúa tạo dựng. Từ đoạn 2 trở đi, chuyển sang Đức Kitô và lần lượt trình bày về 6 tín điều: 1/ Đức Kitô là Con Thiên Chúa. 2/ Mầu nhiệm Nhập thể. 3/ Mầu nhiệm Tử nạn. 4/ Mầu nhiệm Phục sinh. 5/ Mầu nhiệm Thăng thiên. 6/ Quang lâm.

Trong bài này, chúng ta tìm hiểu lời tuyên xưng thứ nhất: “Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô là Con Một của Thiên Chúa Cha và là Chúa chúng ta”.

Categories: Năm Đức Tin

07
Tháng 12
2012

Năm Đức Tin theo Thánh Tôma - Bài 3 TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT

Sau nhập đề tổng quát về đức tin, thánh Tôma bắt đầu giải thích Kinh Tin Kính quen gọi là “Tín biểu các Thánh Tông đồ”. Từ thế kỷ IV, một lưu truyền kể lại rằng các Thánh Tông đồ trước khi chia tay nhau đi giảng đạo thì đã họp nhau để thảo ra Kinh Tin Kính: mỗi vị xướng lên một câu, và tổng cộng là có 12 câu. Thánh Tôma cũng chịu ảnh hưởng của lưu truyền ấy, vì thế ngài chia Kinh Tin Kính làm 12 phần (gọi là articulus: ví như các khúc của thân thể). Các cuộc nghiên cứu lịch sử gần đây đã cho thấy rằng lưu truyền này không có cơ sở. Cấu trúc của các Kinh Tin Kính gồm 3 phần, tương ứng với công trình cứu độ của Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha là Đấng tạo dựng, Chúa Con là Đấng cứu thế (phần này dài nhất), Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hoá (x. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 190-191). Ta có thể phân phối lại 12 mục như sau: Đức Chúa Cha (mục 1), Đức Chúa Con (các mục 2-7), Đức Chúa Thánh Thần (các mục 8-12).

Categories: Năm Đức Tin

06
Tháng 12
2012

Năm Đức Tin theo Thánh Tôma - Bài 2 DẪN NHẬP VÀO ĐỨC TIN

Thánh Tôma mở đầu các bài giảng về Kinh Tin Kính với vài lời dẫn nhập về đức tin, xoay quanh hai câu hỏi chính: Đức tin có ích lợi gì? Đức tin có phi lý không? Tác giả đưa ra 4 lý do để trả lời cho mỗi câu hỏi ấy.

ĐỨC TIN

A. Những lợi ích của đức tin

Đức tin là điều quan trọng nhất đối với một người Kitô hữu. Không có đức tin thì không đáng mang danh là người tín hữu Kitô. Đức tin mang lại 4 lợi ích sau:

1. Nhờ đức tin linh hồn được kết hiệp với Thiên Chúa

Thứ nhất, nhờ đức tin linh hồn được kết hiệp với Thiên Chúa. Thực vậy, nhờ đức tin, linh hồn người Kitô hữu theo một nghĩa nào đó ký kết hôn ước với Thiên Chúa, như trong sách ngôn sứ Hôsê có chép: “Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành” (Hs 2,22)[*]. Vì lý do đó, khi lãnh Bí tích Rửa Tội, trước hết con người tuyên xưng đức tin của mình khi được hỏi: “Con có tin vào Thiên Chúa không?”. Lý do tại vì Bí tích Rửa Tội là bí tích đức tin thứ nhất. Chính Chúa Giêsu đã nói trong Tin Mừng theo Thánh Marcô: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16,16), bởi lẽ không có đức tin thì Bí tích Rửa Tội không ích lợi gì.

Do đó, nên biết rằng nếu không có đức tin thì chẳng ai có thể được Thiên Chúa chấp nhận, như trong thư gửi tín hữu Dothái khẳng định: “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Dt 11,6). Vì lẽ đó, khi chú giải  thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Rôma (14,23): “Hành động nào không do đức tin đều là tội”, Thánh Âutinh nói: “Nếu không nhận biết chân lý vĩnh cửu và bất biến, thì đức hạnh nết na cũng chẳng mang lại ích gì”.

2. Đức tin đưa chúng ta vào sự sống đời đời

Thứ hai, nhờ đức tin, sự sống đời đời đã khởi sự nơi chúng ta. Bởi vì sự sống đời đời chẳng là gì khác hơn là được nhận biết Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã nói: “Sự sống đời đời đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật” (Ga 17,3). Sự nhận biết Thiên Chúa này bắt đầu trong chúng ta nhờ đức tin và được hoàn thành trong cuộc sống mai hậu, khi đó chúng ta sẽ nhận biết Ngài như là chính Ngài: “Đức tin là bảo đảm cho những điều chúng ta hy vọng” (Dt 11,2). Vì vậy, không ai có thể đạt được hạnh phúc Thiên đàng, tức là nhận biết đúng đắn về Thiên Chúa nếu không nhận biết Ngài trước bằng đức tin: “Phúc thay những ai không thấy mà tin” (Ga 20,29).

3. Đức tin hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống đời này

Thứ ba, đức tin điều khiển cuộc sống ở đời này. Thực vậy, để sống cuộc đời lương thiện, người ta cần phải biết điều gì là cần thiết cho mình để có thể sống đức độ. Giả như phải dựa vào việc học hỏi để khám phá ra tất cả những gì cần thiết cho mục tiêu trên, thì e rằng họ sẽ không bao giờ khám phá ra được hoặc chỉ khám phá ra sau một thời gian rất dài. Nhưng đức tin dạy cho chúng ta biết đâu là những cái cần thiết để sống một cuộc sống lương thiện, bởi vì, nhờ đức tin chúng ta biết được rằng: có một Thiên Chúa là Đấng ban thưởng người lương thiện và trừng phạt kẻ độc ác; nhờ đức tin chúng ta biết được rằng: ngoài cuộc sống ở trần gian này còn có một cuộc sống khác nữa; và những chân lý khác đại loại như thế. Những chân lý này thúc bách chúng ta làm lành lánh dữ, như trong sách Khabacuc có viết: “Người công chính sẽ sống nhờ đức tin của mình” (Kb 2,6). Điều này cũng được biểu thị rõ qua sự kiện là trước khi Đức Giêsu đến thế gian, không một triết gia nào mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng không thể hiểu biết nhiều về Thiên Chúa hoặc về những phương tiện cần thiết để đạt được sự sống đời đời, bằng  một bà già nhờ đức tin sau khi Đức Giêsu đến thế gian. Và vì thế, trong sách ngôn sứ Isaia có lời chép: “Trái đất tràn ngập sự hiểu biết Thiên Chúa” (Is 11,9).

4. Đức tin giúp chúng ta vượt qua những thử thách

Đức tin phát sinh lợi ích thứ bốn là sự chiến thắng những cơn cám dỗ, như thư gửi tín hữu Dothái đã tuyên bố: “Nhờ đức tin, các thánh đã chinh phục các nước” (Dt 11,33). Lý do là bởi vì tất cả những cám dỗ xuất phát từ ma quỷ, từ thế gian hoặc từ xác thịt.

a. Ma quỷ cám dỗ chúng ta không vâng phục Thiên Chúa và từ chối lệ thuộc vào Ngài. Thế nhưng, nhờ đức tin chúng ta lướt thắng được những cám dỗ này, bởi vì đức tin dạy chúng ta biết rằng, Thiên Chúa là Chúa tể của mọi loài thụ tạo, và điều này lý giải tại sao chúng ta phải tuân phục Ngài, như lời của Thánh Phêrô nhắn nhủ: “Ma quỷ, thù địch của anh em… rảo quanh tìm mồi cắn xé, anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1 Pr 5,8).

b. Thế gian cám dỗ chúng ta bằng những quyến rũ phú quý giàu sang hoặc làm cho chúng ta sợ hãi những rủi ro bất hạnh. Đức tin giúp chúng ta chiến thắng những cuộc tấn công này, bởi vì đức tin dạy cho chúng ta biết rằng có một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống đời này. Do đó, nhờ đức tin, chúng ta coi nhẹ những phú quý của thế gian này, và không sợ hãi những rủi ro bất hạnh, như Thánh Gioan khẳng định: “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1 Ga 5,4). Đức tin cũng giúp chúng ta vượt thắng được những cám dỗ này khi dạy cho chúng ta biết rằng có những sự dữ tệ hơn nữa, đó là sự dữ của hoả ngục.

c. Xác thịt cám dỗ chúng ta bằng cách quyến rũ chúng ta bám chấp vào những thú vui tạm bợ đời này. Nhưng đức tin dạy cho chúng ta biết rằng, nếu chúng ta tìm kiếm những thú vui này không đúng chỗ thì chúng ta sẽ đánh mất hạnh phúc đời đời, nên Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin” (Ep 6,6). Vì lý do đó, chúng ta có thể kết luận rằng, có đức tin thật ích lợi biết bao.

B. Vấn nạn

Nhưng một người nào đó có thể vặn lại rằng: thật là phi lý khi tin vào những điều mắt không nhìn thấy; chúng ta không nên tin vào những điều mà mình không nhìn thấy.

Có thể đưa ra 4 câu trả lời cho vấn nạn này.

1. Vì trí khôn của chúng ta không hoàn bị

Giả như chúng ta có thể tự mình hiểu biết hoàn toàn tất cả mọi thứ hữu hình và vô hình, thì quả thật sẽ thật là ngớ ngẩn khi chúng ta tin vào những điều mà mắt không nhìn thấy. Tiếc rằng , trí khôn của chúng ta yếu ớt  đến nỗi chưa bao giờ một triết gia nào có thể khám phá rốt ráo bản tính của dù chỉ là một con ruồi. Chúng ta đã từng được nghe rằng, có một học giả nào đó đã trải qua 30 năm sống trong nơi vắng vẻ chỉ để cố gắng tìm hiểu tập quá của loài ong. Vì vậy, nếu trí khôn của chúng ta kém cỏi như thế thì khi tìm hiểu một chủ thể cao vời như Thiên Chúa, mà chỉ dừng lại ở những khái niệm sơ đẳng mà lý trí khám phá được, thì đó chẳng phải là điều ngu xuẩn đấy ư? Thực vậy, chúng ta đang nói về Thiên Chúa là Đấng “cao cả huyền bí đối với khả năng chúng ta tìm hiểu, cũng như không tài nào đếm được những năm tháng của sự vĩnh cửu của Ngài” (G 36,26).

2. Vì sự hiểu biết của chúng ta có giới hạn

Còn một lý do khác nữa cũng lý giải cho chúng ta tại sao đức tin không ngu muội về mặt tri thức. Quả thật, giả như có một chuyên viên nào trong lĩnh vực của mình bị một người quê mùa phản bác, thì bất cứ ai cũng cho rằng anh ta khùng. Xét rằng trí khôn của thiên thần thì vượt trên trí khôn của cả những triết gia vĩ đại nhất (còn xa hơn trí khôn của một triết gia so với khả năng của  của một người ngu dốt vừa nói). Do đó, triết gia sẽ là một người ngu muội, nếu không tin vào những điều thiên thần nói, và càng ngu muội hơn nữa nếu không tin vào những điều Thiên Chúa mạc khải. Thực ra, điều này đã bị lên án qua những lời lẽ trong sách Huấn ca: “Con ơi, người ta đã chỉ cho con nhiều điều vượt quá trí hiểu của loài người” (Hc 3,23).

3. Vì cuộc sống trần gian này hoàn toàn không thể có được nếu người ta chỉ tin vào những điều mắt thấy

Rõ ràng, làm sao người ta có thể sống mà không tin vào kinh nghiệm của người khác? Chẳng hạn như làm sao biết chắc chắn rằng mình là con của ông mà người ta nói là thân sinh của? Vì thế ta phải tin tưởng vào người khác trong những vấn đề mà sự hiểu biết bản thân không đạt đến. Nhất là chúng ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng đáng tin hơn bất cứ ai khác. Vì thế, kẻ nào không tin vào những chân lý mạc khải thì không chứng tỏ rằng mình thông minh, nhưng là người ngu muội và kiêu căng. Đối với những người này, Thánh Tông đồ đã viết: “Kẻ nào không tin vào lời của Chúa là người kiêu căng, không biết gì cả” (1 Tm 6,4). Về phần mình, ngài khẳng định: “Tôi biết tôi tin vào ai, và tôi không nghi ngờ gì” (2 Tm 1,12). Trong sách Huấn ca cũng có lời chép: “Hỡi ai kính sợ Đức Chúa, hãy tin vào Người” (Hc 2,8).

4. Vì các phép lạ của Thiên Chúa chứng tỏ những điều đức tin dạy chúng ta là sự thật

Thật vậy, nếu một ông vua gửi một lá thư được chứng thực với dấu ấn của mình, thì sẽ chẳng ai dám nghi ngờ tính xác thực của lá thư này. Chúng ta cũng có thể nói tương tự về điều đang bàn. Những chân lý mà các thánh đã tin và truyền lại cho chúng ta thì đã được xác nhận bởi dấu ấn của Thiên Chúa là các phép lạ, tức là những công việc mà không một loài thụ tạo nào có thể thực hiện. Qua các phép lạ, Đức Giêsu đã chứng thực giáo lý của các tông đồ và các thánh.

Và nếu có ai nói rằng những phép lạ đó vượt quá kinh nghiệm bản thân của đa số loài người chúng ta, thì tôi xin trả lời rằng: toàn thể nhân loại thờ lạy những tà thần và ngược đãi Kitô giáo. Đây là một sự kiện chắc chắn mà các nguồn lịch sử dân ngoại đều nói. Thế mà giờ đây, chúng ta thấy rằng tất cả mọi người (khôn ngoan, thông thái, quý tộc, giàu có, quyền lực, vĩ nhân) đã trở lại với đức tin Kitô giáo khi nghe vài người nghèo hèn đơn sơ rao giảng Tin Mừng.

Sự kiện này có phải là một phép lạ không?

Nếu đúng là một phép lạ, thì bạn đã có được điều mà bạn đòi hỏi. Nếu bạn nói rằng, đó không phải là một phép lạ, thì tôi xin thưa với bạn rằng: không thể có một phép lạ nào lớn hơn là sự trở lại của toàn thể thế giới; và như thế, chúng ta không phải tìm kiếm đâu xa nữa.

Tóm lại, không ai nên nghi ngờ về các chân lý đức tin; hơn thế nữa, chúng ta hãy tin  những điều vượt ra ngoài khả năng nhìn thấy của chúng ta, bởi vì khả năng nhìn của con người có thể bị lầm lẫn, còn sự hiểu biết của Thiên Chúa thì không bao giờ có thể sai lầm.

----------------- 

[*] Đức tin có thể nhìn dưới 2 khía cạnh: chủ thể và khách thể.

(1) Khía cạnh chủ thể là thái độ, tâm trạng về phía con người. Thánh Tôma bàn rộng về nhân đức tin trong bộ sách Summa Theologica, II-II, q.1-16.

(2) Khía cạnh khách thể là những chân lý đức tin. Thánh Tôma sẽ bàn tiếp trong những bài kế tiếp khi chú giải Kinh Tin Kính. Dĩ nhiên tất cả bộ sách Summa Theologica được soạn để trình bày những chân lý đức tin của Hội Thánh. Thánh nhân còn viết một cuốn sách tóm lược những chân lý đức tin mang tựa đề Compendium theologiae, và một tập ngắn hơn nữa: De Articulis Fidei et Ecclesiae Sacramentis ad Archiepiscopum Panormitanum.

Categories: Năm Đức Tin

06
Tháng 12
2012

Năm Đức Tin theo Thánh Tôma - Bài 1: NHẬP ĐỀ

Theo ước muốn của Đức Giáo Tông, Năm Đức Tin phải là cơ hội để chúng ta đào sâu nền tảng của đức tin Kitô giáo, đặc biệt qua việc học hỏi Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo.

Học viện Đa Minh muốn góp phần để giúp cộng đồng Dân Chúa tìm hiểu đức tin qua  một hình thức tương tự, đó là giới thiệu những bài giáo lý của Thánh Tôma Aquinô về Kinh Tin Kính, Lạy Cha, Mười Điều Răn.

Vị “tiến sĩ thiên thần” đã được nhiều người biết đến qua những pho sách thần học chuyên ngành. Tuy nhiên, vì là một phần tử của Dòng Giảng Thuyết, cho nên cha đã không bỏ qua cơ hội để giảng thuyết, hoặc cho các giáo sư và sinh viên ngay tại Đại học Paris, hoặc cho các tín hữu bình dân. Những bài giáo lý sau đây ra đời vào một hoàn cảnh khá đặc biệt. Vào Mùa Chay năm 1273, sau những năm tháng giảng dạy tại Paris (1257-1259), Orvieto-Roma (1259-1268), Paris (1269-1271), Cha Tôma trở về Napoli, tu viện nơi Cha đã lãnh áo dòng 30 năêm về trước. Cha dành suốt Mùa Chay để giảng tại thánh đường tu viện, dành cho các sinh viên cũng như các tín hữu. Nội dung của các bài giảng là trình bày những chân lý nền tảng Kitô giáo qua việc chú giải Kinh Tin Kính, Kinh Lạy Cha, Mười Điều Răn và Kinh Kính Mừng. Cha giảng bằng phương ngữ Napoli (chứ không phải bằng tiếng Latinh). Một tu sĩ (Phêrô Andria) đã ghi lại tốc ký, và sau này dịch sang tiếng Latinh.

I. Vài đặc trưng

Nên ghi nhận vài đặc trưng của những bài giảng này

1. Thời gian. Có thể nói được đây là Mùa Chay cuối cùng của Cha Tôma, bởi vì một năm sau (1274) ngài qua đời, vào ngày 7-3. Tuy các bài giảng được trình bày bằng lối văn đơn sơ cho đại chúng nhưng nội dung rất sâu sắc, bởi vì cha truyền thụ những suy tư đã chín muồi sau nhiều năm học hỏi và giảng dạy.

2. Lý do chọn lựa đề tài. Tại sao phải giảng Kinh Tin Kính, Kinh Lạy Cha, Mười Điều Răn, thay vì chú giải các đoạn Kinh Thánh như thói quen? Thoạt tiên xem ra chỉ vì lý do mục vụ, bởi vì đó là những kinh bình dân mà ai cũng thuộc rồi. Tuy nhiên, Thánh Tôma đưa ra giải thích sâu xa hơn, đó là: cần cung cấp cho các tín hữu những chân lý căn bản của Kitô giáo để họ biết đường cứu độ. Trong phần mở đầu loạt bài giải thích Mười Điều Răn, Cha nói: “Để được cứu độ, con người cần phải biết vài khái niệm cơ bản: phải tin cái gì, ước ao cái gì, làm cái gì. Kinh Tin Kính trả lời cho câu hỏi thứ nhất, bởi vì thâu tóm những điều căn bản của mạc khải; Kinh Lạy Cha trả lời câu hỏi thứ hai; lề luật của Chúa trả lời cho câu hỏi thứ ba” . Nói cách khác, Thánh Tôma móc nối 3 bản kinh với 3 nhân đức: tin - cậy - mến. Thực ra, 3 kinh này đã được sử dụng cho các lớp dự tòng từ lâu rồi, và Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo liên kết ba kinh này với ba chiều kích của đức tin: tuyên xưng, cử hành, sống.

3. Chương trình. Cha Tôma giảng mỗi ngày một bài, và phân phối như sau: 15 buổi cho Kinh Tin Kính, 10 buổi cho Kinh Lạy Cha, 32 buổi cho Mười Điều Răn, và kết thúc với 2 (hoặc 1) buổi cho Kinh Kính Mừng. Tổng cộng là 59 (hoặc 58 buổi). Lập tức một câu hỏi nảy lên: Mùa Chay (dịch sát tiếng Latinh là “Mùa Bốn Mươi”: quadragesima) chỉ có 40 ngày, làm thế nào giảng 58 buổi được? Có thể trả lời như thế này. Cho đến công đồng Vatican II, tuy Mùa Chay bắt đầu chính thức từ Thứ Tư Lễ Tro nhưng đã được chuẩn bị trước đó 3 tuần lễ (mang tên là các Chúa nhật Bảy Mươi, Sáu Mươi, Năm Mươi). Như vậy, tổng cộng là 9 tuần lễ (63 ngày); tuy nhiên, điều chắc là không giảng vào 3 ngày cuối của Tuần Thánh (Tam Nhật Vượt Qua). Có lẽ Cha Tôma đã phân phối các bài giảng để có thể bắt đầu từ Chúa Nhật Bảy Mươi (ngày 5 tháng 2) và kết thúc vào Thứ Tư Tuần Thánh. Cũng nên biết là không phải tất cả các bài đều dài ngang nhau. Vì thế, có ý kiến cho rằng có lẽ có ngày giảng 2 bài!

Ngoài 3 kinh (Tin Kính, Lạy Cha, Mười Điều Răn) tạo nên nòng cốt của đức tin Công giáo, Cha Tôma còn chú giải Kinh Kính Mừng Maria. Vì sao? Kinh này không thuộc về các chân lý cần thiết để được cứu rỗi, nhưng cha có lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Mẹ (mỗi trang sách Summa contra gentiles đều bắt đầu với Ave Maria). Không lạ gì mà Cha muốn kết thúc các bài giảng về đức tin với đôi lời về Đức Mẹ, theo như thói quen thời ấy là kết thúc các bài giảng với đôi lời nói về Đức Mẹ. Nên biết là bài chú giải Kinh Kính Mừng ngắn, ra như một thứ “phụ trương” và  có lẽ chỉ giảng trong hai (hay một) buổi; dù sao thì vào thời ấy, Kinh Kính Mừng chỉ gồm phần đầu (hai câu trích từ Phúc Âm Luca); phần thứ hai mới trở nên cố định từ thế kỷ XVI.

4. Phương pháp biên soạn. Đây là những bài giảng được ghi lại, chứ không phải tác phẩm do chính tay cha Tôma viết ra. Vì thế tác giả trích dẫn thuộc lòng các câu Kinh Thánh hoặc giáo phụ, và “người chịu trách nhiệm  xuất bản” phải tìm cách đi truy tầm nguồn . Chúng tôi cũng lợi dụng để chen thêm ghi chú khi cần thiết. Ngoài ra, khó có thể khẳng định rằng người ghi đã “thu” lại từng chữ từng câu của bài giảng; có lẽ ông ta chỉ ghi những ý tóm tắt và rất có thể đã bỏ qua vài đoạn (nhưng hy vọng là không chèn thêm ý kiến riêng tư của mình vào).

II. Nội dung

Để dễ theo dõi, chúng tôi xin sơ lược bản Mục lục.

A. Kinh Tin Kính

(Sau một bài nói về đức tin, tác giả lần lượt chú giải 12 điều của Kinh Tin Kính)

1. Đức tin là gì?

- Đức tin mang lại những ích lợi gì?

- Đức tin không phải là phi lý

2. Điều thứ nhất: Tôi tin kính một Thiên Chúa

- Danh tính Thiên Chúa. Thiên Chúa cai quản muôn vật.

- Chỉ có một Thiên Chúa. Những lý do của tín ngưỡng đa thần.

- Thiên Chúa dựng nên trời đất. Những sai lầm liên quan đến việc tạo dựng. Những hệ quả tốt lành của đức tin vào Chúa tạo thành.

3. Điều thứ hai: Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, là Chúa chúng ta

- Đức Kitô là Con Thiên Chúa. Những sai lầm liên quan đến đạo lý này.

- Đức Kitô được sinh ra trong lòng Chúa Cha như là Lời Thiên Chúa.

4. Điều thứ ba: Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã xuống thai sinh bởi trinh nữ Maria

- Mầu nhiệm Nhập thể. Những sai lầm liên quan đến điều thứ ba.

- Những hệ quả tốt lành của Mầu nhiệm Nhập thể.

5. Điều thứ tư: Người chịu nạn thời quan Phonxiô Philatô, chịu đóng đinh trên thánh giá, chết và mai táng

- Mầu nhiệm Chúa chịu chết.

- Tại sao Đức Kitô chịu đau khổ vì chúng ta.

- Những công hiệu của những đau khổ của Đức Kitô. Những mẫu gương nhân đức.

6. Điều thứ năm: Người xuống ngục tổ tông. Ngày thứ ba Người sống lại

- Những lý do của việc Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông.

- Hệ quả của niềm tin này.

- Mầu nhiệm  phục sinh của đức Kitô.

- Hệ quả của niềm tin này.

7. Điều thứ sáu: Người lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa là Cha toàn năng

- Mầu nhiệm Thăng thiên.

- Hệ quả của việc thăng thiên.

8. Điều thứ bảy: Từ trời Người sẽ đến phán xét kẻ sống và kẻ chết

- Sự phán xét thuộc về Đức Kitô.

- Hình thức phán xét.

- Tại sao phải sợ sự phán xét.

- Chúng ta chuẩn bị cuộc phán xét như thế nào?

9. Điều thứ tám: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần

- Giáo huấn của Kinh Tin Kính Nixêa về Chúa Thánh Thần.

- Những ân huệ của Chúa Thánh Thần.

10. Điều thứ chín: Tôi tin kính Hội thánh Công giáo

- Hội Thánh duy nhất 

- Hội Thánh thánh thiện

- Hội Thánh công giáo hay phổ quát

- Hội Thánh tông truyền

11. Điều thứ mười: Sự hiệp thông các thánh. Sự tha tội

- Ôn lại bảy bí tích

- Sự tha tội

- Sự hiệp thông các thánh

12. Điều thứ mười một: Thân xác sống lại

- Những ân huệ của sự sống lại

- Những đặc tính của thân xác phục sinh

- Điều kiện của các phúc nhân

- Điều kiện của các kẻ trầm luân

13. Điều thứ mười hai: Đời sống vĩnh cửu. Amen

- Sự sống vĩnh cửu là gì?

- Sự chết vĩnh cửu là gì?

B. Kinh Lạy Cha

(Kinh Lạy Cha được phân làm 7 đoạn, và cộng thêm nhập đề và kết luận)

1. Nhập đề. Kinh Lạy Cha là kinh nguyện tuyệt vời nhất

2. Lạy Cha chúng con ngự trên trời

3. Lời cầu thứ nhất: Xin cho danh Cha được nên thánh

4. Lời cầu thứ hai: Xin cho Nước Cha đến

5. Lời cầu thứ ba: Xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời

6. Lời cầu thứ tư: Xin cho chúng con hôm nay bánh mỗi ngày

7. Lời cầu thứ năm: Xin tha nợ chúng con, cũng như chúng co tha những kẻ có nợ chúng con

8. Lời cầu thứ sáu: Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ

9. Lời cầu thứ bảy: Nhưng xin cứu chúng con khỏi sự dữ. Amen.

10. Tóm tắt

C. Mười Điều Răn

(Trước khi chú giải từng điều răn, tác giả giới thiệu tổng quát về ý nghĩa của luật Thiên Chúa mà trọng tâm là yêu thương)

1. Nhập đề: Luật Thiên Chúa là luật tình yêu

2. Những điều luật yêu mến Thiên Chúa

3. Những điều luật yêu mến tha nhân

4. Điều răn thứ nhất: Ngươi không có thần linh nào khác trước mặt Ta

- Vì đâu có tội thờ ngẫu tượng?

- Những lý do vì sao ta chỉ thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất

5. Điều răn thứ hai: Ngươi đừng kêu tên Thiên Chúa cách vô cớ

- Thế nào là kêu tên Chúa cách vô cớ?

- Khi nào được phép kêu tên Thiên Chúa?

6. Điều răn thứ ba: Ngươi hãy nhớ thánh hóa ngày sabat

- Tại sao có luật buộc thánh hoá ngày sabat?

- Phải thánh hoá ngày Chúa Nhật như thế nào?

7. Điều răn thứ bốn: Hãy tôn kính cha mẹ

- Cha mẹ cho con cái điều gì?

- Con cái phải làm gì cho cha mẹ?

- Những phần thưởng hứa cho kẻ tôn kính cha mẹ

8. Điều răn thứ năm: Không được giết người

- Ý nghĩa của điều răn: cấm giết người

- Có thể giết người như thế nào?

- Chúa nói rằng kẻ nào giận anh em thì phạm tội giết người. Giận anh em là gì?

9. Điều răn thứ sáu: Không được ngoại tình

- Tại sao ngoại tình là một tội?

- Tại sao ngăn cấm ngoại tình và tà dâm?

10. Điều răn thứ bảy: Không được trộm cắp

- Thế nào là trộm cắp?

- Những lý do cấm trộm cắp

11. Điều răn thứ tám: Đừng làm chứng gian

- Thế nào là làm chứng gian?

- Vì sao không nên nói dối?

12. Điều răn thứ chín: Đừng ham muốn điều của tha nhân

- Những lý do ngăn cấm việc ham muốn tài sản người khác

13. Điều răn thứ mười: Đừng ước muốn vợ của người khác

- Những cấp độ dục tình

- Cách thức chiến thắng dục tình

14. Tóm tắt

D. Kinh Kính Mừng

Lời chào của Thiên sứ

Ave Maria

Chức vị thiên sứ

Đầy ơn phúc

Những nhân đức của Đức Thánh Trinh Nữ

Đức Maria, kẻ cứu giúp các Kitô hữu

Thiên Chúa ở cùng Bà

Bà có phúc hơn mọi phụ nữ

Hoa trái của lòng Bà thật diễm phúc

------------------

Những bản dịch:

- Tiếng Anh:

The Catechetical Instructions of St Thomas Aquinas, translated with a Commentary by Rev. Joseph B. Collins, Baltimore 1939, đăng trên: www.catholicprimer.org

- Tiếng Pháp: 

Commentaire du Credo, traduction par un moine de Fontgombault, Nouvelles Editions Latines, 1969. 

Explication du Notre Père, 1978. 

Explication des deux préceptes de la charité et des dix commandements de la loi, 1970.  Exposition de la Salutation Angélique, 1978. 

Deuxième édition numérique, http ://docteurangelique.free.fr, 2008

- Tiếng Ý:  

S. Tommaso d'Aquino, Opuscoli teologico - spirituali, introduzione, traduzione e note di  Raimondo Sorgia, Paoline Roma 1976.

Categories: Năm Đức Tin

12
Tháng 10
2012

Nghi thức khai mạc Năm Đức Tin tại giáo xứ

Nghi thức: KM Năm Đức Tin tại GX

Nghi thức khai mạc Năm Đức Tin tại giáo xứ

Ngày khai mạc Năm Đức Tin tại các giáo xứ, Giáo Phận TP.HCM, được ấn định là Chúa Nhật XXIX Thường Niên, ngày 21-10-2012.

1. Phần chuẩn bị trước thánh lễ: Bên phải trước bàn thờ đặt một cái bàn có trang trí hình logo Năm Đức Tin, trên bàn đặt cuốn Thánh Kinh, Sách Văn Kiện Công Đồng Chung Vaticanô II và sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo.

2. Phần dẫn nhập lễ: Giải thích ý nghĩa Năm Đức Tin và lễ khai mạc.

3. Kiệu Sách Thánh: Sau bài dẫn nhập lễ, cộng đoàn hát bài ca Năm Đức Tin và chủ tế bắt đầu đi kiệu vào nhà thờ.

  • Thứ tự đoàn kiệu: Bình hương, thánh giá, đèn hầu đi trước, 1 giúp lễ cầm Sách Văn Kiện Công Đồng Chung Vaticanô II, 1 giúp lễ cầm sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Chủ tế cầm Thánh Kinh.
  • Khi đi kiệu tất cả sách đều được nâng cao.
  • Khi đến cung thánh không bái chào bàn thờ, lần lượt đặt những sách này trên bàn theo vị trí đã chuẩn bị sẵn rồi chủ tế xông hương.

4. Sau Dấu thánh giá và chào giáo dân: Chủ tế giới thiệu ý nghĩa ngày lễ và tuyên bố khai mạc Năm Đức Tin.

5. Sau lời nguyện hiệp lễ: Cộng đoàn đọc Kinh Năm Đức Tin.

Categories: Năm Đức Tin, Phụng Vụ

08
Tháng 9
2012

Tự sắc: Cánh cửa đức tin – Porta Fidei (WHĐ)

PORTA FIDEI – CÁNH CỬA ĐỨC TIN
TÔNG THƯ – TỰ SẮC
CỦA ĐỨC GIÁO TÔNG BIỂN ĐỨC XVI
CÔNG BỐ NĂM ĐỨC TIN 2012-2013

Categories: Năm Đức Tin, Huấn Quyền